Theo người lớn tuổi cừ khôi ở Vạn Giã, mà ngày nay có con cháu nối đời theo nghề đi địu (nghề khai khẩn trầm kỳ), cho biết Nơi phát tích nghề đi địu là từ xóm quang Đông, buôn bản Ninh Đông, huyện Ninh Hòa, rồi sau mới lan dần ra huyện Vạn Ninh. Còn trước nữa, tức thị người huyện Tân Định (Ninh Hòa) học nghề này từ đâu, thì việc ấy không có ai biết một cách tận tường. tượng trầm hương Miếng trầm hương có lượng tinh dầu tương đối cao Trong nguồn khoáng sản rừng, trầm hương và kỳ nam (gọi tắt là trầm kỳ) là hai loại lâm đặc sản có Chi phí trị kinh tế to nhất. Trầm hương và kỳ nam là phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó bầu mọc hoang trong số những cánh rừng già Trung bộ. Cây dó có hai loại: dó bầu (tên công nghệ là Aquilaria agallocha) và dó gạch hay nói một cách khác là dó niệt (Aquilaria malaccensis). Dó gạch cũng cho trầm nhưng mừi hương nồng, hắc, có vị tanh và Giá trị thấp. Chỉ có dó bầu mới cho ta trầm tốt và kỳ nam. Về nguyên do tạo trầm kỳ của cây dó, có không ít kém chất lượng thuyết khác nhau. Từ thế kỷ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã viết trong sách Phủ biên tạp lục: “Hương ấy là bởi ở ruột cây dó kết thành. Dó có ba loại: dó lưỡi trâu thì thành khổ trầm, dó niệt thì thành trầm hương, dó bầu thì thành kỳ nam hương. Người ta thấy cây già lá vàng mà nhỏ, thân nhiều u bướu, thì biết ngay là có hương, chặt mổ để lấy”. Trước đây cây dó bầu mọc nhiều ở các khu rừng của tỉnh Khánh Hòa. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần viết về thổ sản của tỉnh giấc Khánh Hoà cũng ghi: “Vùng núi những huyện đều có kỳ nam, trầm hương. Dân làng An Thành huyện Tân Định hàng năm đi tìm để nạp, năm nào ko có kỳ nam phải nạp thay bằng trầm hương”. Trầm Khánh Hòa tập kết nhiều ở rừng núi các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, trong số đó nhiều người biết đến đặc biệt là vùng núi Hòn Chảo ở Tu Bông, Vạn Giã (thuộc huyện Vạn Ninh) mà nổi tiếng đã đến ca dao: “Cây quế thiên thai mọc ko kể khe đá, Trầm Chỗ Vạn Giã hương toả sơn lâm”. thác trầm hương Cây dó bâu tạo trầm hương khi được đặt ra những câu hỏi về ông tổ của nghề, các cụ ông cụ bà lớn tuổi cho thấy, nghề này không có ông tổ, cũng tương tự như những nghề đi củi, đốt than, chặt cây, đẵn gỗ, làm súc, chặt củi kèo, củi thước, gài bẫy, đi săn… Có thể kể ra phía trên các lớp người tiên phong từ thời rất lâu rồi, đó là ông Thừa Lương (con ông chồng Cửu, ở Vạn Giã), tiếp tục là Bảy Lùn, Bảy Ba, ông Bớt (Nguyễn Hường), rồi đến ông Phạm Hỉnh (tên có tên gọi là ông Điền) ở làng mạc Vạn Bình, ông Giỏi, và lớp gần nhất là ông Sáu Mùi (Nguyễn Mùi). Tất cả những người ấy đều đi tìm kiếm trầm hương, kỳ nam từ thời trước 1975. tới các năm 80 (thế kỷ XX) ở huyện Vạn Ninh, những thôn Vạn Thắng, Vạn Phú, Vạn Hưng… và đặc biệt là tại đô thị Vạn Giã, số người đi núi tìm trầm hương nhiều lắm. Họ ra tới La 2, Phước Lãnh (Phú Yên), An Khê (Bình Định), rồi Ba Tơ (Quảng Ngãi), đến tới tận Quế Sơn, Trung Phước, Trà My, Tác Bỏ (Quảng Nam), lặn lội vào tận rừng sâu, lên tít núi cao, hợp tác với dân số tộc tại địa phương để tìm trầm hương. Ở Vạn Ninh, mãi đến tới tận hôm nay, vẫn còn đấy đa số chúng ta đi tìm trầm kỳ, lục lọi, đào xới những gốc cây dó mà ngày trước họ đã tìm bắt gặp, với kì vọng còn lại chút gì. đó là 1 nghề khôn xiết gay cấn, nguy hiểm, có lúc còn mất cả tính mạng: sốt rét vì muỗi rừng, gặp mãnh thú, lạc đường, bị nước lũ cuốn trôi… vì thế mới có chuyện “ngậm ngãi tìm trầm”, rồi hóa thành người rừng như lời kể lại của rất nhiều cụ thời xưa. và đúng là “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”! cách nhận biết trầm hương